Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

[Depplus.vn] - Ăn miếng gỏi nhớ hỏi "sầu đâu?"


Tôi ở lại An Giang khi cả miền Tây đang vào mùa lênh đênh nước nổi, ăn miếng gỏi sầu đâu nghe đắng chát ngọt ngào hòa chung một vị.

Dì Năm Hóa (sau này tôi thường quen chỉ gọi dì Năm) ở đơn thân, cũng duyên số trời cho tôi gặp được dì để ở nhờ suốt chuyến công tác 3 ngày. Bến sông Dinh nơi căn nhà của người đàn bà sang tuổi lục tuần, thấp thoáng những bóng sầu đâu lặng lẽ, trắng lốm đốm từng chùm hoa mong manh, lá cớm đông lưa thưa xoắn xít. 

Thời gian ngắn ngủi đánh tan giấc mơ của anh em đồng nghiệp gửi gắm vào tôi: "tiện công tác phải chu du khắp vùng ăn cho bằng no, thăm cho bằng chán", bởi cố gắng lắm đến tận chiều ngày cuối cùng tôi mới được ngơi tay dời công việc. Nhưng chuyến "chu du" lại thành ra tròn vẹn quanh mâm gỏi cá sặt sầu đâu chính tay dì Năm thết đãi.


Những ngọn sầu đâu non. Ảnh: Internet 

Dì chỉ tôi hái nhánh sầu đâu non sau nhà, trong lúc chờ dì bước thấp bước cao lên phà sang chợ mua mớ khô cá sặc. Bên bến kia sông, cả ngôi làng từng nát tươm dưới bom rơi đạn nổ, nát tươm cả mối tình chờ đợi dài đằng đẵng của dì, nay đã mọc lên hàng dãy nhà cửa quán sá nhộn nhịp. Từ bên này nhìn sang thấy sông Dinh rầm rộ xây bờ kè bê tông cốt thép lở đất, người ta cũng luôn tiện lập thành tích mừng thị trấn lên thị xã trong năm sau.

Khô cá sặc. Ảnh: Internet 

Món gỏi nghe tên tưởng dân dã giản đơn mà thấy dì cứ luôn tay, khi lựa tôm khô lúc bào dưa chuột, tay xé cá sặc tay chần lá tươi. Nguyên liệu chẳng khó kiếm gì, toàn những thức đang mùa sẵn có, tất cả trộn với mắm me. Mắm me cũng rõ kì công, dì dạy tôi từng chút, nào giã tỏi ớt rồi thêm nước đun lên, dầm me vắt me lấy nước chua vừa phải, lại nêm thêm chút đường và ít mắm đặc sản Chánh Hương, đun lăn tăn đến khi hơi sánh lại. Dì vừa làm miệng vừa kể chuyện, năm xưa hai bên bờ sông đầy rẫy sầu đâu mướt hoa trĩu trái, bến sông làm nơi hò hẹn trai gái luôn. Cây lá như thay lòng người, dù "sầu đâu" ít hay nhiều, gặp nhau dưới bóng cây, ăn cùng nhau cọng lá chát, nuốt vào rồi mới biết cuối cuống họng có vị ngọt thanh. Dì dặn tôi rằng, người làm gỏi ngon không bao giờ để những phụ gia tôm thịt hay gia vị muối đường át mất cái đắng cái ngọt thuần túy của đọt lá sầu đâu.


Nhìn đĩa gỏi bày ra, chẳng ai nghĩ nó lại là thức vị vốn dĩ ân cần với người dân miền Tây đến vậy. Cứ đầu đông đến cuối tháng Hai Âm, người quanh vùng ngồi "nhậu" chút xíu cùng nhau bên đĩa gỏi làm từ cây lá vườn nhà, nhấp ngụm rượu trắng rồi ngâm nga đôi ba câu vọng cổ. "Chẳng phải vì hoài thương hay cái chi hết, chỉ bởi nghe cái tên đã thấy xuyến xao quá xá rồi đó bây, ăn miếng gỏi nhớ hỏi "sầu đâu?", hiểu hôn?". Dì cười cười nhìn sang sông, rìa bên ấy, những hàng sầu đâu nơi dì và mối tình sâu nặng tuổi xuân xanh đã bị chiến tranh xóa dấu.

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

[Depplus.vn] - Cỗ chuột đồng


Những ngày Hà Nội đầu đông bất chợt hửng nắng, thảng hoặc có hơi khói rơm từ ngoại thành lấn vào nội đô, tôi nhớ lần bác cả điện cho bố: "Về đi bắt chuột, uống với tao". Thế là bố tôi về, còn tôi thì "bám càng" bố. Và thế là tôi được tham gia vào cuộc đi săn "nhớ đời".
  
Quê nội tôi ở Gia Lộc, Hải Dương. Từ nhà tôi lên Hà Nội học, quê nội nằm ở giữa, cách đều 2 phía. Thế nhưng không phải tôi được về luôn luôn. Bố mẹ tôi "thoát ly" ra đất mỏ từ những năm tám mươi, năm thỉnh mười thoảng dắt tôi về giỗ ông hay chúc Tết, khi đó tôi bé tí ti; sau này, thêm đôi lần tôi "liều" phóng xe máy về thăm nội. Nhưng hình như cái mệnh Thổ của tôi nó khiến cho hơi ruộng đất ăn sâu vào niềm say mê chứ không hề bị xa lạ.


Từ đêm trước, bố và bác đã ngồi bện những búi rơm dài khoảng 2 gang tay, quê tôi gọi là cái "bùi nhùi" (một vài quê khác gọi là "con cúi"), để hôm sau hun chuột. Vừa bện, hai người đàn ông vừa kể cho tôi nghe về về thời ấu thơ của họ, những ngày ổ rạ con trâu trở thành bạn bè, những ngày đói kém triền miên quanh năm chỉ biết sống bằng củ mài con chuột. 


Trời hửng nắng, bác và bố người vác cuốc người xách xô ra đồng, tôi con nít theo đuôi được bác giao cho giữ nơm và giỏ đựng. Quê nội tháng 11 đã qua vụ gặt, gốc rạ trơ xám nổi lên, ruộng trống trải làm lộ từng hốc chuột đồng to tướng quanh mép mương. Hóa ra chẳng riêng gì 3 chúng tôi, bờ thửa nhà nào cũng đã có các gia đình đi bắt chuột, cả cánh đồng mênh mông như thế mà đông vui nhộn nhịp như hội hè. Khói mảnh khảnh từ những búi rơm bay lên, chẳng mấy chốc đã tan ra, ngào ngạt.


Bố chỉ cho tôi hốc chuột, cửa hang to bằng thân chuối. Bố nói chuột ranh ma không "xây nhà" một cửa, ông dắt tôi đi xung quanh để kiếm các cửa hang phụ, rồi lấy những tấm giằng (lưới thép) găm xuống chặn cửa hang. Bác cả đã xách được vài xô nước, và đào rộng miệng hang. Bác đặt ngay cửa một cái nơm tre, rồi liên tục đổ nước vào hốc. Các cửa hang đều đã chặn, chuột tháo chạy bằng lối chính; bố mồi bùi nhùi kế khói vào miệng hang, những con chuột lì lợm cũng đành ì oạp lội ra vì sặc khói, cắm đầu thẳng vào miệng ống nơm, chỉ còn thò lên cái đuôi dài ngoằng, ngúc ngoắc. Bác cho tôi cầm đuôi chuột thả vào giỏ đựng. 


Quá trưa, tôi với lũ trẻ con cùng làng cầm giỏ lúc nhúc hai chục chú chuột đàn đi khoe nhau. Các ông bố đun nước làm lông và hun khói chuột ngay tại đồng. Từng con từng con mập như trái chuối tây, trắng nõn rồi vàng ươm. Da chuột mỏng nhưng bố thui rất khéo, không bị nứt rạn bao giờ, con nào cũng óng ả. Với hai mươi con chuột đã làm sạch thui thơm là 2 vợ chồng bác tôi đã có được một mâm cỗ đủ vị để thết đãi "thằng em" xa quê và đứa cháu ruột. 


Khi nghe tôi kể về thịt chuột, đám bạn thành phố đứa nào cũng rùng mình, nhưng chuột đồng ăn lúa ngô nên sạch sẽ, thịt thơm và dai, chứ không nhơ nhớp như chuột cống chuột chù. Các món từ chuột cũng đa dạng phong phú lắm. 

Dễ nhất là luộc, nhưng phải được luộc với nước mưa, phải được ép với lá chanh xắt sợi cho ráo bớt mỡ và đượm mùi. Miếng thịt sau khi chặt ra lại được ăn với muối chanh, dai ngọt như thịt gà.


Thịt chuột chặt miếng, một nửa ướp muối và ngũ vị hương, đảo đều cho ngấm rồi rang nhanh tay trên lửa lớn, từng miếng thịt chuột khô se có màu cánh gián phủ hạt muối mịn tinh; một nửa kia ướp sả ớt và nước mắm quê, xào liu riu nửa tiếng, thế là lại có thêm một món thơm phưng phức.


Những con béo ngậy thì bóp với giềng mẻ nấu giả cầy.


Quê nội tôi lâu đời thuần nông, nhưng đất đai không đủ mỡ màng để xen canh gối vụ, người ta chỉ biết trông vào lúa ngô là chính, lác đác có nhà trồng hoa màu rau xanh. Người làng xuất thân nghèo khó, thịt chuột trở thành miếng ngon quê nhà, không phải thứ cao lương mĩ vị nào xa xôi cả. Thịt chuột xuất hiện cả trong đám cưới, cả trong giỗ chạp, cả trong hội làng rộn rã ngoài đình.

Tôi đi qua nhiều phố ở thị thành, thấy những nơi giăng biển "đặc sản", rồi nghe cả chuyện người ta vì miếng "đặc sản" mà bắt cả chuột cống từ bãi rác bệnh viện để kinh doanh. Tôi cảm thấy chạnh lòng, như thể đáng thương cho những thực khách ở đó; không biết có khi nào họ được ăn biết miếng thịt chuột béo mềm sống bằng ngô khoai thanh đạm, không biết có khi nào họ hiểu thịt chuột "đặc sản" bởi nó là miếng thịt được sinh ra tự nhiên từ ruộng đồng, dù đất cằn vất vả. 

Ảnh: Internet

[Depplus.vn] - Nhớ cồn cào chiếc bánh xèo Đà Nẵng

Theo DEPPLUS.VN

Đà Nẵng mưa sầm sập nữa rồi... Trời mưa với se se lạnh chút xíu là tự dưng cái thèm bánh xèo liền. Bữa nay, dọc đường Âu Cơ, xuất hiện mấy hiệu bánh xèo thời vụ, mỗi lần chạy xe về, đi ngang qua là 2 lỗ mũi đã muốn dính ngược lên vì hít lấy hít để cái mùi vị không lẫn vào đâu được ấy. Có lẽ đây là một trong những món ăn thời thơ ấu còn in đậm trong vị giác, khứu giác lẫn tâm thức tôi đến tận bây giờ. 

Nhắc đến bánh xèo phải kể đến cái cối đá. Hồi trước nhà tôi là một trong những nhà có cối đá "made in Non Nước" hẳn hoi. Ở Quảng Nam - Đà Nẵng (ai muốn phát âm "đúng điệu" phải là Quoảng Nôm - Đòa Nẽng nha!) những năm chín mấy - hai ngàn có 2 nơi làm cối đá nổi tiếng là ở Non Nước (Ngũ Hành Sơn) và Đại Lộc. Nhưng cối Non Nước vẫn có giá hơn vì độ tinh xảo và bởi cái danh làng nghề truyền thống nữa. Kiểu như hồi trung học chúng tôi cứ nhắc đến con gái miền Bắc là khen xinh nhưng con gái Hà Nội thì xinh bội phần.


Cối đá có 2 loại nhé, cối giã và cối xay. Cối giã thì chắc ai cũng biết, nó be bé, hay để trong bếp giã gia vị hành tỏi ớt riềng. Cối xay làm bằng hai khối đá đẽo thành hai thớt trụ tròn đặt chồng lên nhau. Thớt dưới nằm cố định, có khe dẫn nước bột. Thớt trên có một lỗ hỏm lớn để cho nguyên liệu vào, hai lỗ nhỏ hai bên tai thường dùng thanh gỗ tròn luồn vào làm tay vịn để xay. Hai thớt của cối xay sẽ tạo ra ma sát, xay nhuyễn nguyên vật liệu thành bột.


Vì nhà có cối xay nên mỗi lần trời mưa dầm dề, các bà các mợ quanh xóm lại í ới gọi nhau qua rủ má tôi "mần" bánh xèo ăn. Người thì mang gạo sang, người thì giục chồng ra thăm lờ, dỡ lưới xem có con tôm con tép nào dính không, kẻ tất tả kiếm rau. Cánh đàn ông thì phụ trách xay bột, bọn con nít xúm quanh cầm cái bẹ chuối lùa vào rãnh cối cho bột mau chảy xuống khay đựng. Nói nói cười cười rôm rả át cả tiếng mưa như trắng trời ngoài sân.


Nhưng vui nhất là lúc đổ bánh. Ông ba với mấy ông bác xong nhiệm vụ thì lên nhà trên kiếm chi đó nhâm nhi xị rượu. Cánh phụ nữ tất tả với củi lửa, gia vị, xoong nồi; đám con nít như tôi thì ngồi quanh bếp thi nhau nuốt nước bọt. Mỗi lần mẹ đổ bột vào chảo kêu cái xèo là tất cả lại đồng thanh ực ực, mặt đứa nào đứa nấy hau háu dễ sợ. Trong lúc ngồi chờ, thỉnh thoảng mẻ nào trót vỡ là được hưởng ngay...trời ơi...miếng bánh xèo khi đó nó ngon không có chi mà tả được. Rồi thì lẽo đẽo theo má bê bánh từ dưới bếp lên nhà, từng dĩa từng dĩa vàng giòn ruồm ruộm, nghi ngút khói. Mười mấy năm rồi, nghĩ lại vẫn ứa y chang vị nước miếng thèm thuồng ngồi hóng bếp, tin nổi không(!).


Hồi đó nghèo mà vui thật. Cứ đến mùa đông, hôm nào trời mưa trắng xóa, thấy mẹ đem cối ra rửa rửa lau lau thì đứng ngồi hông yên, lòng thì rạo rực, chân tay cứ loáy ngoáy, miệng mồm chả khô nổi, đầu óc chẳng nghĩ nổi ngoài cái mùi vị bánh xèo ngon nhất trần đời ấy. Giờ thì ít hơn, thỉnh thoảng mấy bà trong xóm cũng tụm lại mần bánh xèo. Nhưng không bằng khi xưa khi thiếu đi mồ hôi nhễ nhãi của mấy ông bố xay bột, thiếu đi cái háo hức của mấy nhóc háu ăn và đặc biệt là không còn được nghe tiếng cối chậm rãi lạo xạo, rột rạt ám ảnh sự nôn nóng được ăn của con nít.

Kể đến đây thì hết kể nổi luôn. Cái bụng nó cồn cào quá.